CHIẾN LƯỢC QUỐC GIA VỀ NGƯỜI CAO TUỔI GIAI ĐOẠN 2026-2035, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2045 TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC NINH
Nhằm nâng cao chất lượng mạng lưới y tế chăm sóc sức khỏe, phòng bệnh, khám, chữa bệnh và quản lý các bệnh mãn tính cho người cao tuổi (NCT), Sở Y tế triển khai thực hiện Chiến lược quốc gia về Người cao tuổi giai đoạn 2026-2035, tầm nhìn đến năm 2045 trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.
Chiến lược nhằm cụ thể hoá Kế hoạch của tỉnh thực hiện Chiến lược quốc gia về Người cao tuổi; từng bước nâng cao nhận thức, tạo môi trường xã hội đồng thuận và phong trào toàn xã hội tham gia chăm sóc NCT, tạo điều kiện để NCT tham gia các hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch, vui chơi, giải trí; Nâng cao sức khỏe của NCT trên cơ sở trang bị kiến thức, kỹ năng tự chăm sóc sức khỏe và tăng khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu của NCT; Đảm bảo NCT trên địa bàn tỉnh được tiếp cận dịch vụ y tế, sống an toàn, khỏe mạnh, được tham gia và phát huy vai trò trong gia đình và cộng đồng; hướng đến mục tiêu nâng cao chất lượng sống, giảm tỷ lệ khuyết tật ở NCT.
Lãnh đạo Sở Y tế yêu cầu các đơn vị trong ngành xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện phù hợp với tình hình thực tiễn của địa phương, cơ quan, đơn vị nhằm cải thiện, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho NCT tỉnh, góp phần đảm bảo an sinh xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội của địa phương. Các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp thực hiện công tác bảo vệ, chăm sóc, chăm sóc sức khỏe và phát huy vai trò NCT phải sát với tình hình thực tế, phù hợp với thực trạng NCT và nguồn lực của từng địa phương, cơ sở. Thường xuyên tổ chức kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả thực hiện; tổ chức sơ kết, tổng kết thực hiện kế hoạch này theo quy định.
Chiến lược nhằm cụ thể hoá Kế hoạch của tỉnh thực hiện Chiến lược quốc gia về Người cao tuổi; từng bước nâng cao nhận thức, tạo môi trường xã hội đồng thuận và phong trào toàn xã hội tham gia chăm sóc NCT, tạo điều kiện để NCT tham gia các hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch, vui chơi, giải trí; Nâng cao sức khỏe của NCT trên cơ sở trang bị kiến thức, kỹ năng tự chăm sóc sức khỏe và tăng khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu của NCT; Đảm bảo NCT trên địa bàn tỉnh được tiếp cận dịch vụ y tế, sống an toàn, khỏe mạnh, được tham gia và phát huy vai trò trong gia đình và cộng đồng; hướng đến mục tiêu nâng cao chất lượng sống, giảm tỷ lệ khuyết tật ở NCT.
Lãnh đạo Sở Y tế yêu cầu các đơn vị trong ngành xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện phù hợp với tình hình thực tiễn của địa phương, cơ quan, đơn vị nhằm cải thiện, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho NCT tỉnh, góp phần đảm bảo an sinh xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội của địa phương. Các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp thực hiện công tác bảo vệ, chăm sóc, chăm sóc sức khỏe và phát huy vai trò NCT phải sát với tình hình thực tế, phù hợp với thực trạng NCT và nguồn lực của từng địa phương, cơ sở. Thường xuyên tổ chức kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả thực hiện; tổ chức sơ kết, tổng kết thực hiện kế hoạch này theo quy định.
.jpg)
Phó Giám đốc Sở Y tế Nguyễn Thị Thu Hương thăm hỏi động viên sức khoẻ người bệnh tại Bệnh viên YHCT Bắc Ninh
Tỉnh Bắc Giang nỗ lực đạt 90% NCT được phát hiện, điều trị, quản lý bệnh không lây nhiễm vào năm 2030, đạt 100% vào năm 2035. NCT khi bị bệnh được khám và điều trị hàng năm đạt 100%. NCT cô đơn, bệnh nặng được khám và điều trị tại nơi ở hàng năm đạt 100%. Bệnh viện tuyến tỉnh (trừ BV chuyên khoa nhi) có khoa lão khoa, trung tâm y tế có giường điều trị NCT đạt 100%. Xây dựng Bệnh viện lão khoa tuyến tỉnh, Trung tâm chăm sóc sức khỏe NCT ban ngày hoặc 01 mô hình Trung tâm dưỡng lão xã hội hóa. 95% NCT khó khăn tiếp cận dịch vụ y tế; 80–85% NCT khuyết tật được phục hồi chức năng. 100% NCT khuyết tật đặc biệt nặng, lang thang được chăm sóc tại cơ sở trợ giúp xã hội. 100% NCT nghèo, không có người phụng dưỡng được hưởng trợ giúp xã hội. Gia đình có NCT bệnh suy giảm trí nhớ, khuyết tật được tập huấn kỹ năng chăm sóc đạt 50% vào năm 2030, đạt 70% vào năm 2035.
Trong thời gian tới, ngành Y tế sẽ tập trung tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền về công tác chăm sóc sức khỏe NCT. Đẩy mạnh tuyên truyền vận động, nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi tạo môi trường xã hội ủng hộ và tham gia chăm sóc sức khỏe NCT. Tuyên truyền các chính sách, pháp luật về NCT; các mô hình chăm sóc NCT ở cộng đồng, mô hình hoạt động văn hóa, thể thao; mô hình sản xuất kinh doanh hiệu quả; phổ biến gương điển hình NCT trong hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Đa dạng hóa hình thức truyền thông nâng cao nhận thức của lãnh đạo Đảng, Chính quyền, Đoàn thể các cấp; các nhà hoạch định chính sách; các chức sắc tôn giáo; những người có uy tín trong cộng đồng… về tác động và thích ứng với vấn đề già hóa dân số, biến đổi khí hậu, dịch bệnh, cách mạng công nghiệp, chuyển đổi số tác động đến đời sống của NCT; trách nhiệm của gia đình, cộng đồng xã hội và nhà nước trong việc chăm sóc, phát huy vai trò của NCT.
Tổ chức các cuộc thi tìm hiểu và phổ biến pháp luật về NCT, kỹ năng chăm sóc NCT, chăm sóc sức khỏe NCT. Tổ chức hội nghị truyền thông về chăm sóc và NCT tự chăm sóc, các bệnh thường gặp ở NCT và các chính sách cho NCT. Xây dựng các chuyên mục, phóng sự, tin, bài trên Báo và Phát thanh truyền hình; đài truyền thanh xã/phường.
Đặc biệt, ngành Y tế củng cố, phát triển hệ thống cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu, phòng chống bệnh không lây nhiễm, khám chữa bệnh cho người cao tuổi. Triển khai kịp thời chăm sóc sức khỏe ban đầu, tổ chức chiến dịch truyền thông, cung cấp dịch vụ khám sức khỏe định kỳ cho NCT lồng ghép với sàng lọc bệnh không lây nhiễm tại cộng đồng, lập sổ quản lý theo dõi sức khỏe NCT từ tuyến cơ sở, đặc biệt ưu tiên các xã vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, vùng dân tộc thiểu số và miền núi; phát triển mạng lưới cung cấp dịch vụ phát hiện sớm bệnh tật, chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng và phẫu thuật chỉnh hình, cung cấp dụng cụ trợ giúp cho NCT. Triển khai hệ thống khám chữa bệnh tại nhà cho NCT không có điều kiện đến cơ sở khám chữa bệnh. Phát triển mạng lưới nhân viên chăm sóc, thực hiện tư vấn chăm sóc sức khỏe cho NCT tại nhà và cộng đồng. Thành lập Bệnh viện lão khoa, phát triển chuyên ngành lão khoa tại các Bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh, các Bệnh viện chuyên khoa tuyến tỉnh (trừ Bệnh viện Sản nhi), Trung tâm Y tế khu vực có bộ phận lão khoa, có giường bệnh cho NCT. Xây dựng, phát triển mạng lưới tình nguyện viên tham gia các hoạt động theo dõi, hỗ trợ chăm sóc sức khỏe, quản lý các bệnh mạn tính, bệnh không lây nhiễm tại gia đình cho NCT. Xây dựng, triển khai các mô hình: Trung tâm chăm sóc sức khỏe ban ngày; xã, phường thân thiện với NCT; Trung tâm dưỡng lão theo hình thức phù hợp, tiến tới xã hội hóa thực hiện nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe NCT; ứng dụng công nghệ thông tin vào dịch vụ chăm sóc sức khỏe NCT (mạng xã hội, internet,...).
Cùng với đó, ngành tập trung phát triển mạng lưới cơ sở trợ giúp xã hội cung cấp dịch vụ chăm sóc, phục hồi chức năng đối với người cao tuổi. Thực hiện quy hoạch, phát triển mạng lưới các cơ sở trợ giúp xã hội chăm sóc, phục hồi chức năng cho NCT (công lập và ngoài công lập). Hỗ trợ đầu tư cho các cơ sở trợ giúp xã hội về cơ sở vật chất, kỹ thuật và trang thiết bị đạt tiêu chuẩn quy định, bảo đảm có các phân khu chức năng, các hạng mục công trình đáp ứng hoạt động chăm sóc, phục hồi chức năng cho NCT. Tập trung đầu tư xây dựng mới cơ sở bảo trợ xã hội tổng hợp của tỉnh có quy mô hiện đại nhằm đáp ứng nhu cầu chăm sóc cho các đối tượng bảo trợ xã hội trong đó có NCT. Thí điểm mô hình chăm sóc dài hạn, chăm sóc có thời hạn, chăm sóc bán trú đối với NCT; mô hình nhà xã hội an toàn tại cộng đồng cho NCT, trong đó ưu tiên NCT cô đơn không có người phụng dưỡng. Thí điểm ngân sách nhà nước hỗ trợ một phần đối với khu vực tư nhân cung cấp dịch vụ chăm sóc NCT có hoàn cảnh khó khăn.
Đẩy mạnh việc nâng cao năng lực cho đội ngũ công chức, viên chức và cộng tác viên làm công tác trợ giúp NCT ở các tuyến; cơ sở chăm sóc sức khỏe; cán bộ dân số và tình nguyện viên ở cơ sở. Tổ chức tập huấn về lão khoa, hỗ trợ chuyển giao kỹ thuật nâng cao năng lực cho các phòng khám lão khoa, khoa lão khoa, khu có giường điều trị người bệnh là NCT thuộc các bệnh viện đa khoa, chuyên khoa thực hiện khám và chữa bệnh cho NCT…. Nâng cao năng lực cho trạm y tế xã trong thực hiện dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu, phòng chống các bệnh không lây nhiễm cho NCT tại gia đình và cộng đồng. Hoàn thiện chính sách pháp luật liên quan đến chăm sóc sức khỏe người cao tuổi. Rà soát văn bản, xây dựng, hoàn thiện chính sách, pháp luật; hướng dẫn chuyên môn, kỹ thuật về chăm sóc sức khỏe NCT.
Trong thời gian tới, ngành Y tế sẽ tập trung tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền về công tác chăm sóc sức khỏe NCT. Đẩy mạnh tuyên truyền vận động, nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi tạo môi trường xã hội ủng hộ và tham gia chăm sóc sức khỏe NCT. Tuyên truyền các chính sách, pháp luật về NCT; các mô hình chăm sóc NCT ở cộng đồng, mô hình hoạt động văn hóa, thể thao; mô hình sản xuất kinh doanh hiệu quả; phổ biến gương điển hình NCT trong hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Đa dạng hóa hình thức truyền thông nâng cao nhận thức của lãnh đạo Đảng, Chính quyền, Đoàn thể các cấp; các nhà hoạch định chính sách; các chức sắc tôn giáo; những người có uy tín trong cộng đồng… về tác động và thích ứng với vấn đề già hóa dân số, biến đổi khí hậu, dịch bệnh, cách mạng công nghiệp, chuyển đổi số tác động đến đời sống của NCT; trách nhiệm của gia đình, cộng đồng xã hội và nhà nước trong việc chăm sóc, phát huy vai trò của NCT.
Tổ chức các cuộc thi tìm hiểu và phổ biến pháp luật về NCT, kỹ năng chăm sóc NCT, chăm sóc sức khỏe NCT. Tổ chức hội nghị truyền thông về chăm sóc và NCT tự chăm sóc, các bệnh thường gặp ở NCT và các chính sách cho NCT. Xây dựng các chuyên mục, phóng sự, tin, bài trên Báo và Phát thanh truyền hình; đài truyền thanh xã/phường.
Đặc biệt, ngành Y tế củng cố, phát triển hệ thống cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu, phòng chống bệnh không lây nhiễm, khám chữa bệnh cho người cao tuổi. Triển khai kịp thời chăm sóc sức khỏe ban đầu, tổ chức chiến dịch truyền thông, cung cấp dịch vụ khám sức khỏe định kỳ cho NCT lồng ghép với sàng lọc bệnh không lây nhiễm tại cộng đồng, lập sổ quản lý theo dõi sức khỏe NCT từ tuyến cơ sở, đặc biệt ưu tiên các xã vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, vùng dân tộc thiểu số và miền núi; phát triển mạng lưới cung cấp dịch vụ phát hiện sớm bệnh tật, chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng và phẫu thuật chỉnh hình, cung cấp dụng cụ trợ giúp cho NCT. Triển khai hệ thống khám chữa bệnh tại nhà cho NCT không có điều kiện đến cơ sở khám chữa bệnh. Phát triển mạng lưới nhân viên chăm sóc, thực hiện tư vấn chăm sóc sức khỏe cho NCT tại nhà và cộng đồng. Thành lập Bệnh viện lão khoa, phát triển chuyên ngành lão khoa tại các Bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh, các Bệnh viện chuyên khoa tuyến tỉnh (trừ Bệnh viện Sản nhi), Trung tâm Y tế khu vực có bộ phận lão khoa, có giường bệnh cho NCT. Xây dựng, phát triển mạng lưới tình nguyện viên tham gia các hoạt động theo dõi, hỗ trợ chăm sóc sức khỏe, quản lý các bệnh mạn tính, bệnh không lây nhiễm tại gia đình cho NCT. Xây dựng, triển khai các mô hình: Trung tâm chăm sóc sức khỏe ban ngày; xã, phường thân thiện với NCT; Trung tâm dưỡng lão theo hình thức phù hợp, tiến tới xã hội hóa thực hiện nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe NCT; ứng dụng công nghệ thông tin vào dịch vụ chăm sóc sức khỏe NCT (mạng xã hội, internet,...).
Cùng với đó, ngành tập trung phát triển mạng lưới cơ sở trợ giúp xã hội cung cấp dịch vụ chăm sóc, phục hồi chức năng đối với người cao tuổi. Thực hiện quy hoạch, phát triển mạng lưới các cơ sở trợ giúp xã hội chăm sóc, phục hồi chức năng cho NCT (công lập và ngoài công lập). Hỗ trợ đầu tư cho các cơ sở trợ giúp xã hội về cơ sở vật chất, kỹ thuật và trang thiết bị đạt tiêu chuẩn quy định, bảo đảm có các phân khu chức năng, các hạng mục công trình đáp ứng hoạt động chăm sóc, phục hồi chức năng cho NCT. Tập trung đầu tư xây dựng mới cơ sở bảo trợ xã hội tổng hợp của tỉnh có quy mô hiện đại nhằm đáp ứng nhu cầu chăm sóc cho các đối tượng bảo trợ xã hội trong đó có NCT. Thí điểm mô hình chăm sóc dài hạn, chăm sóc có thời hạn, chăm sóc bán trú đối với NCT; mô hình nhà xã hội an toàn tại cộng đồng cho NCT, trong đó ưu tiên NCT cô đơn không có người phụng dưỡng. Thí điểm ngân sách nhà nước hỗ trợ một phần đối với khu vực tư nhân cung cấp dịch vụ chăm sóc NCT có hoàn cảnh khó khăn.
Đẩy mạnh việc nâng cao năng lực cho đội ngũ công chức, viên chức và cộng tác viên làm công tác trợ giúp NCT ở các tuyến; cơ sở chăm sóc sức khỏe; cán bộ dân số và tình nguyện viên ở cơ sở. Tổ chức tập huấn về lão khoa, hỗ trợ chuyển giao kỹ thuật nâng cao năng lực cho các phòng khám lão khoa, khoa lão khoa, khu có giường điều trị người bệnh là NCT thuộc các bệnh viện đa khoa, chuyên khoa thực hiện khám và chữa bệnh cho NCT…. Nâng cao năng lực cho trạm y tế xã trong thực hiện dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu, phòng chống các bệnh không lây nhiễm cho NCT tại gia đình và cộng đồng. Hoàn thiện chính sách pháp luật liên quan đến chăm sóc sức khỏe người cao tuổi. Rà soát văn bản, xây dựng, hoàn thiện chính sách, pháp luật; hướng dẫn chuyên môn, kỹ thuật về chăm sóc sức khỏe NCT.
Nguồn: syt.bacninh.gov.vn
Phạm Thị Thu Hà - Phòng CTXH








